Tháng 7/2004, Văn phòng Quản lý chương trình đã tổ chức Hội thảo "Dịch tễ học HIV và các chiến lược can thiệp" cho các cán bộ chương trình và mời các chuyên gia đến cập nhật kiến thức HIV/AIDS, phân tích tình hình và giải đáp những thắc mắc để giúp cán bộ các Dự án thành phần hiểu rõ vấn đề, đưa ra những đề xuất lồng ghép khả thi, thiết thực nội dung HIV/AIDS vào hoạt động của từng dự án. Sau khi tổng hợp các đề xuất, một kế hoạch lồng ghép hoạt động toàn diện tận dụng mọi nguồn lực sẵn có đã hình thành và được vận dụng linh hoạt trong các hoạt động của Chương trình.
Đến nay, 9 dự án thành phần đều có những nỗ lực lồng ghép HIV/AIDS dưới nhiều hình thức khác nhau và đã đạt được những kết quả có ý nghĩa trên nhiều lĩnh vực từ chính sách, hệ thống, nghiên cứu,kế hoạch, tài liệu, truyền thông và thực hành tại cộng đồng nổi bật là:
nĐề cập vấn đề HIV/AIDS trong các chính sách, qui định khám chữa bệnh và sử dụng thuốc (HPC, DMC1, DMC2, PAR).
nĐưa nội dung HIV/AIDS vào tài liệu giảng dạy cho sinh viên đại học Y (CBE), tài liệu đào tạo nhân viên y tế thôn bản theo giáo trình ABC (CBHD).
nGắn vấn đề HIV/AIDS vào tài liệu truyền thông phát tay như tờ rơi phòng chống tác hại thuốc lá (TCC), phổ biến qua Website, email (PMCU).
nTổ chức hội thảo chuyên đề và lập kế hoạch lồng ghép HIV/AIDS vào hoạt động cho cán bộ trong chương trình (PMCU).
nTiếp cận và cung cấp các thông tin HIV/AIDS thông qua các nghiên cứu, báo cáo (HPC).
nLồng ghép nội dung HIV/AIDS vào các hội thảo, khoá tập huấn cho nhân viên y tế, cán bộ dự án (DMC2, CBHD).
nLồng ghép phổ biến kiến thức HIV/AIDS trong truyền thông sức khoẻ tại cộng đồng dân cư (AIPC), sinh viên đại học (CBE,TCC), trại giam (CBHD).
nTổ chức lồng ghép thực hành phòng chống HIV/AIDS tại cộng đồng: phòng chống tai nạn thương tích và HIV tại cụm dân cư (AIPC), Phòng chống tác hại thuốc lá và HIV/AIDS trong sinh viên 4 trường đại học và các câu lạc bộ phụ nữ, Đoàn Thanh niên (TCC).
nTăng cường tiếp cận thuốc điều trị HIV/AIDS: Đề án tiếp cận điều trị HIV/AIDS ở Việt Nam (DMC1), Hướng dẫn sử dụng thuốc điều trị AIDS (DMC1, DMC2).
Kế hoạch tiếp theo từ nay tới khi kết thúc Hiệp định (cuối năm 2007), các hoạt động sẽ được thúc đẩy hơn và đi vào chiều sâu, trọng tâm cho những hoạt động có tính bền vững và duy trì, đặc biệt những nội dung được đưa vào chính sách, hoạt động thường xuyên của cộng đồng. Nội dung các hoạt động cũng sẽ quan tâm hơn đến những hoạt động có thể liên quan đến những vấn đề ưu tiên như điều trị, chăm sóc, giảm nhẹ cho những người bị HIV/AIDS.
Như vậy, sau 4 năm nỗ lực, tích cực lồng ghép nội dung HIV/AIDS vào hoạt động, những kết quả đạt được của Chương trình HTYTVNTĐ tuy chưa nhiều về số lượng nhưng rất có ý nghĩa vì nó trực tiếp đóng góp vào việc xây dựng chính sách và phát triển hệ thống y tế ở Việt Nam – mục tiêu chính của Chương trình Hợp tác Y tế Việt Nam-Thụy Điển. Ngoài ra, ý nghĩa này còn được nhân lên khi so sánh giữa chi phí không nhiều với hiệu quả khá cao vì phần lớn các hoạt động là lồng ghép với các hoạt động có sẵn, có thể làm bài học kinh nghiệm về lông ghép hoạt động cho các chương trình và dự án. Hơn nữa, khi đã được chính sách và cộng đồng hóa một số mô hình lồng ghép này có thể được duy trì trong tương lai như một hoạt động thường xuyên, góp phần tích cực vào cuộc chiến chống HIV/AIDS ở Việt Nam.