Thứ Ba, ngày 09 tháng 02 năm 2010
Trang chủ  |  Đường dây nóng  |  Sơ đồ Site  |  Liên hệ  |  English  
  TRANG TIN ĐIỆN TỬ  
Tin tức
Văn bản mới ban hành
Thông tin cần biết
Tin hoạt động
Tin về dược
Tin y học cổ truyền
Tin khác
Tin quốc tế
Giới thiệu
Lịch sử - Truyền thống
Hệ thống tổ chức y tế
Khám chữa bệnh
Y học dự phòng
Dược
Trang thiết bị Y tế
Y học cổ truyền
VSAT thực phẩm
Đào tạo - Nghiên cứu
Hợp tác quốc tế
Văn bản pháp quy
Thống kê Y tế
Góp ý dự thảo văn bản
Tìm thông tin
TỔ CHỨC CỦA BYT
CÁC ĐƠN VỊ KHÁC
 
Số lượt truy cập:
5 9 2 2 3 9 9 2
 
 
Tin tức Tin y học cổ truyền
Công dụng của mật gấu Có tác dụng thanh huyết, sát khuẩn, làm tan sỏi mật. Uống chữa các chứng bệnh thấp nhiệt, hoàng đản (vàng da), hồi hộp, sợ hãi, co dúm, lỵ lâu ngày, đau mắt đỏ kéo mạng, đau răng, trĩ dò, mụn nhọt, sỏi mật.

Công dụng của mật gấu

 

Tên khoa học: Selenarctos thibetanus G.Cuvier - Gấu ngựa, có khoang trắng hình chữ V ở ngực.

rsus arctos lisiotus Gray: Gấu chó, gấu nâu,đen, đều thuộc họ gấu (Ursidae).

Tên khác: Hùng (TQ) – Ours (Pháp) – Bear (Anh).

Bộ phận dùng: Cả cái mật đã chế biến khô của nhiều loài gấu (Fel Ursi) còn gọi là Hùng đởm (TQ), Bile d’ours (Pháp) – Bear gall (Anh). Đã được ghi vào Dược điển Việt Nam (1997).

Mô tả con vật: Gấu là một loài động vật có vú khá lớn, loài gấu trắng Bắc Cực, gấu nâu vùng ôn đới, nặng trên 300kg, đứng cao gần 2m, trông dữ tợn, đầu to, tai bé,mũi hơi nhọn, công thức răng của gấu giống chó: 42 răng, bốn chân ngắn, 2 chân sau dài và phát triển hơn 2 chân trước, có thể đi, đứng, chạy, thường thì 4 chân, có bộ móng vuốt phát triển, trèo leo lên cây rất giỏi, bơi lội suối, ăn tạp, ăn cá, lá, hoa quả,rất thích đồ ngọt: mậtong, múi và sơ mít.

Đuôi ngắn, lông dày, đen, nâu đen (gấu Bắc cực lông trắng), Gấu trúc (Panda) thuộc loại rất quý hiếm.

Gấu sống hoang dại các rừng từ ôn đới, nhiệt đới (gấu trắng vùng tuyết), châu Âu, Á, Mỹ ...

Ngày nay đã được nuôi ở vườn thú, rạp xiếc, mới đây còn được nuôi để lấy mật.

Nuôi gấu rất dễ, gần như nuôi lợn, nếu thêm đường, mật...gấu ăn rất khoẻ.

Thu hoạch chế biến: Thu hoạch mật gấu quanh năm, về mùa đông thì lượng mật nhiều nhất, mùa xuân thì chất lượng tốt nhất (có lần ở một con gấu nặng 93kg lấy được 88,5kg mật tươi).

Trước khikia săn bắn, giết gấu, mổ lấy mật, buộc chặt ống dẫn mật lại treo nơi thoáng gió, khô mát hoặc làm khô trong bình hút ẩm.

Thủy phần dưới 15p100.

Ngày nay, để bảo vệ động vật khỏi bị diệt chủng mỗi khi lấy mâjt phải giết gấu, hơn nữa để bảo đảm chất lượng không bị giả mạo, nhất là mật gấu rất đắt tiền và khó kiểm nghiệm, ngườita còn nuôi gấu, tiến hành phẫu thuật khi con gấu đang sống, rối cắm ống dẫn lưu vào túi mật để lấy mật chủ động số lượng và định kỳ.

Trung bình 1 con gấu 1 năm có thể rút được 1-2 kg mật (tương đương 15-30 con gấu).

Thành phần hoá học: Trong mật gấu, sơ bộ có các chất.

Muối kim loại của các acid cholic.

Cholesterol.

Sắc tố mật như billirubin.

Các acid cholic trong mật gấu có acid cholic, acid chenodesoxycholic, acid ursodexycholic. Riêng acid ursodesoxycholic được coi là thành phần đặc trưng của mật gấu (độ chảy 202oC, độ quay cực +57.07).

Công dụng: Theo đông y, Mật gấu vị đắng, tính lạnh. Vào 3 kinh tâm, can, vy.

Có tác dụng thanh huyết, sát khuẩn, làm tan sỏi mật.

Uống chữa các chứng bệnh thấp nhiệt, hoàng đản (vàng da), hồi hộp, sợ hãi, co dúm, lỵ lâu ngày, đau mắt đỏ kéo mạng, đau răng, trĩ dò, mụn nhọt, sỏi mật.

Ngoài ra còn dùng làm thuốc giúp tiêu hoá, giảm đau, trấn kinh, chữa trẻ em kinh phong, người khibị trấn thương.

Dùng ngoài ra: điểm vào mắt, dán ngoài chỗ bị trĩ dò.

Acid ursodesoxycholic chống co thắt, chữa 1 số bệnh gan, mật, làm tan sỏi mật, không gây ỉa chảy, không làm tăng transaminase.

Liều dùng: 0,5 – 2g (mật gấu).

Lưu ý: Không thuộc chứng thực nhiệt không dùng.

Xương gấu: cũng được dùng để nấu cao xương gấu,làm thuốc bồi dưỡng, chữa tê thấp, đau mỏi gân xương.

Phụ chú: Một số cách thử mật gấu:

Cảm quan: Nếm lúc đầu thấy đắng, sau thấy ngọt mát và dính lưỡi, ngậm lâu sẽ tan hết trong miệng. Mật những động vật khác không dính lưỡi, múi tình, nếm đắng mà không mát, nhìn không bóng, bẻ không ròn.

Lấy vài hạt, mảnh, mật gấu thả trên mặt nước sẽ thấy hạt mật gấu quay tròn rồi chìm xuống đáy. Có sợi màu vàng buông thẳng xuống đáy dưới cốc nước không toả ra - Phản ứng mầu, theo phương pháp hoá học: Các phản ứng Pettenkofer, phản ứng Lieberman – Surchard, chỉ có một tính chất định tính, không định lượng.

Nói chung những cách thử trên chỉ có tính chất tham khảo, mua trực tiếp là biện pháp bảo đảm nhất.

Bảo quản: Để nơi khô mát.

Ngày 12/02/2005
 
[ In trang ][ Xem, in ][ Gửi mail ][ Đầu trang ][ Trở về ]
 

CHUYÊN ĐỀ
 
Trang tin điện tử ngành Y tế
Giấy phép của Cục Báo chí - Bộ Văn hóa Thông tin số: 314/GP-BC ngày 09/7/2004
Trưởng Ban biên tập: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế
Bản quyền Bộ Y tế - 138A Giảng Võ - Ba Đình - Hà Nội. Tel (84-4): 62732273 - Fax: 38464051 - Email: byt@moh.gov.vn